Beyond the Grotesque* – Truyền thông và quy hoạch đô thị

*Grotesque: a general adjective for the strange, fantastic, ugly, incongruous, unpleasant, or disgusting, and thus is often used to describe weird shapes and distorted forms (wiki)

Ai hay theo dõi các tin quy hoạch trên báo ở nhả chắc cũng sẽ có lúc nóng gáy với cái kiểu viết thiếu trách nhiệm như thể phóng viên đi họp, ghi âm về rồi chỉ biết chép hết ra; nhất là với những nội dung chứa nhiều thông tin về địa điểm bởi không phải ai cũng hiểu rõ địa bàn cũng như khả năng hình dung về không gian nói chung. Nhiều khi chỉ một cái bản đồ đơn giản thôi cũng hiệu quả hơn nhiều một đống chữ từ đầu tới cuối.

Hồi trước tui cũng từng có một cái fantasy rằng ở đại học người ta sẽ hướng dẫn sinh viên cách truyền đạt thông tin công chúng qua các phương tiện hình ảnh hiện đại và hấp dẫn hơn. Rốt cuộc sang đây nó lại là sự thật. Trong học phần của kỳ vừa rồi tui đã có cơ hội với một cách tiếp cận tương tự. Nhưng ở đây không phải là truyền đạt kiến thức đã định, mà là dùng video kể một chuyện về quy hoạch/thiết kế đô thị của một nơi chốn, qua đó thể hiện những nghiên cứu và quan điểm về quá trình qua quyết định liên quan đến quy hoạch đó.

Nhóm tụi này chọn làm về một quyết định quy hoạch thuộc St. Vincent, là khu vực công nghiệp truyền thống ở Tây Bắc trung tâm Sheffield (Google Maps với post code S3 7AR để xem địa điểm).

đồ án quy hoạch cho rằng đây là khu vực bỏ hoang, nhiều tội phạm và đề xuất xóa bỏ chức năng công nghiệp nhẹ và xây dựng các chung cư mới tại đây. ý tưởng này vấp phải phản ứng của các doanh nghiệp địa phương, họ gửi các tài liệu lên thành phố chứng minh rằng hoạt động sản xuất ở đây vẫn tồn tại và thậm chí mở rộng, và lo ngại rằng lợi ích của các cư dân mới sẽ mâu thuẫn với tiếng ồn từ  các nhà xưởng.

Quả thực bên trong các nhà xưởng cũ kỹ kia, khó mà biết được rằng ngoài các hoạt động sản xuất cơ khi chính xác (dụng cụ nhà bếp, thiết bị ô tô và cả máy bay Airbus), còn có một khu trượt ván, một khu leo núi trong nhà, một studio nhạc, và một xưởng làm việc thường xuyên cho khoảng 70 nghệ sỹ. Ngoài ra, xem trên police.uk cũng có thể thấy khu này dù trông hoang vắng đáng sợ nhưng tỷ lệ tội pham ít hơn rất nhiều so với mấy nơi đẹp đẽ ở trung tâm (trang này có ứng dụng bản đồ thể hiện crime report chi tiết đền từng góc đường).

Tiền đề là như vây, nhưng trong giới hạn 3 phút của đề bài thì phim chỉ khai thác sự đối lập giữa không gian trong và ngoài của các công trình, mà có thể chính quyền đã bỏ qua yếu tố nào đó khi quyết định, và đặt câu hỏi rằng yếu tố thị giác đó đóng vai trò như thế nào trong quá trình ra quyết định quy hoạch.

đoạn giữa phim dựng lại một không gian văn phòng hơi u tịch và quan liêu (quay trong thư viên) nơi các đồ án quy hoạch được xem xét. Kỳ thực phòng quy hoạch của Sheffield chỉ có dăm ba người với áp lực công việc lớn. Các công ty kiến trúc cũng vậy thôi, một team cũng chỉ vài mống. Vì vậy một quy định liên quan rất nhiều người đôi khi chỉ do một vài cá nhân quyết định. Nhà đầu tư cũng có một chiêu chiến lược khi nộp hồ sơ dự án ngay trước kỳ nghỉ Giáng sinh 2012, và khi chính quyền làm việc lại thì số hồ dồn ứ khiến họ ít thời gian xem xét hơn.

Video này đương nhiên không phải từ hư không mà ra. Cảm hứng đầu tiên mà nhóm  muốn hướng tới là cách sử dụng âm thanh, thay đổi màu sắc và collages của Kelly Sears; một video ma quái về cái chết của các sinh viên tại một trường trung học.

Once It Started It Could Not End Otherwise from Rooftop Films on Vimeo.

Project của một bạn cùng lớp, khám phá một tòa nhà bỏ hoang ở Bỉ:

Cách đấy nhanh nhịp phim về phía cuối:

Nói chung ý tưởng là làm một video trừu tượng và tránh thuyết minh. Tuy nhiên làm vậy khá mạo hiểm vì khó mà đảm bảo người xem nghĩ theo hướng mình muốn, ngoài ra còn dễ lạc đề khi yêu cầu phải kết nối với những phân tích về quy trình ra quyết định quy hoạch. Cãi lộn một hồi thì mới có mấy dòng chữ minh họa địa điểm, hồ sơ quy hoạch cũng như trích dẫn ở cuối clip.

đương nhiên nếu làm lại thì sẽ còn chỉnh nhiều về âm thanh, nhất là nửa đoạn đầu, cũng như thay heartbeats bằng cái khác vì frequency nó rất thấp, chỉ nghe được với earphones hay loa bass thôi, mà nâng frequency lên lại bị vỡ âm thanh (tốn cả lít nước miếng cãi lộn vụ tim phổi này mà vẫn không địch lại số đông).

ý đồ về màu sắc nếu làm như clip của Sears thì lại chỏi với mấy phần còn lại nên rốt cuộc chỉ để trắng đen và thay đổi equalizer, contrast. đó là chưa kể ngày đầu chưa biết xài DSLR sai focus tá lả (!!). Ngoài ra nhịp phim bị gấp, đến buối chiếu mới thấy nhóm nào cũng lố đến 4 phút nên nếu để giãn ra cỡ đó thì ra đúng vẻ ma mị hơn.

Sẵn giới thiệu luôn vài sản phẩm khác mà tui thích. Thứ nhất là của bạn Bỉ nói ở trên, khai thác khía cạnh thời gian trong quy hoạch, ý nói ý tưởng viết ra thì nhanh nhưng không phải ngày một ngày hai mà phát triển được nhưng cũng phải biết thức thời nắm bắt cơ hội. Phần stop motion và cảnh pha trà ở cuối thể hiện sự đối lập nhanh chậm này.

2 clip này dùng stop motion có kèm thuyết minh, rất chi là ấn tượng và súc tích, và rất đặc trưng phong cách bọn kiến trúc (2 khoa học chung môn này, bạn Bỉ kia cũng kiến trúc).

https://plus.google.com/photos/108090043291675587623/albums/5882954857973842353/5882954865195956482?sqi=111794226034954350022&sqsi=f3c11f5c-cfcb-4995-86b9-c10fd104ea6b&pid=5882954865195956482&oid=108090043291675587623 (chịu khó paste lại link)

Nói chung làm theo kiểu documentary thì thông điệp rõ ràng và… lộ, hơn là chỉ dừng lại ở mức đặt một câu hỏi gợi mở cho người xem suy nghĩ. Nói chung rất là khó nói, vì dùng video footages thì có lợi thế là mô tả được cảm giác THỰC về sự hoang vắng cũ kỹ, trong khi với animation hay stop motion chỉ có thể ẩn dụ hay hoán dụ mà thôi. Tui thì rất thích cái việc mà mọi người phải bước ra đường, đến từng nơi gõ cửa và nói chuyện với mọi người, nhờ vậy mới có cơ hội thấy cái máy in 3D đang râm ran dư luận gần đây cũng như đến dự một cái exhibition/party kiểu rất underground.

Còn clip này thể hiện quan điểm quy hoạch rõ là technocratic, tức chỉ có sự tham gia giữa chính quyền, chuyên gia và nhà đầu tư mà vắng bóng đối tượng sử dụng cuối cùng là công chúng. Cái này thực ra ở đâu cũng có thể bắt gặp nhưng đặc biệt phổ biến ở Tung Cửa và người anh em Việt Nam. Giáo viên ngồi dưới nhắc khéo mà không biết các bạn í có hiểu không nữa. 😀

Thăm “nhà xưởng” nghệ thuật Baltic

Sau gần một năm bỏ bê thì hôm nay tui đã quay lại với blog này, hy vọng đỡ ăn hại hơn xưa. Một phần lý do là sau khi làm được vài bài đầu tiên thì anh Dũng “đô-thị” vời qua dịch-viết với blog của ảnh nên tui cũng mám danh mà nhảy qua đó cho sang. Ngặt nỗi cái kiểu bên ấy thì khó mà nhố nhăng được nên đôi khi cũng cảm thấy kìm nén lắm ạ. Cho đến mấy hôm vừa rồi tui mới đánh một chuyến lên vùng đông Bắc để tham quan một cái gallery tại Newcastle; hình chụp thì nhiều quá mà chẳng lẽ mỗi ngày post một tấm để câu view thì biết đến khi nào mới xong thế nên đành dồn vào bài này câu luôn một thể vậy. 😀

Newcastle, chắc không phải ai cũng biết, mà thực ra qua đây tui mới biết chứ trước giờ đâu có biết, có tên đầy đủ trên bản đồ là Newcastle-upon-Tyne, tức là thành phố Newcastle bên dòng sông Tyne. Kiểu đặt tên thành phố này khá thông dụng ở Anh, ví dụ như Burton-upon-Trent chẳng hạn; suy ra nếu áp dụng ở VN thì ta sẽ có Nha Trang-trên-Cái, Huế-trên-Hương… nghe như thằng Huế đè con Hương vậy hờ.

Trở lại với Newcastle, đây là một thành phố cảng mà nếu xuôi dòng chừng 10km là ra đến biển phía đông của nước Anh. Vì có cảng nên nó giàu, trong lịch sử mà giàu thì đồng nghĩa với nhiều di sản, đi vào khu trung tâm sẽ thấy nhà cổ quy mô hoành tráng chứ không quê mùa như nơi tui ở vốn là một thành phố chế tạo thép nên “di sản” nhiều khi là mấy nhà máy hay xưởng thủ công như cái lò gạch ở làng Vũ đại thôi :(. Newcastle tiền bạc có dư dả hơn nên chừng 20 năm gần đây bọng hắng đầu tư rất mạnh vào các công trình tái phát triển khu trung tâm, mà The Baltic Centre for Contemporary Art là một trong số đó.

đây, gallery đó đây:

image

The Baltic trước đây là một nhà máy sản xuất bột nằm cạnh bờ Nam sông Tyne, hoạt động từ năm 1950 đến 1981. Năm 1994 kiến trúc sư Dominic Williams thắng giải cuộc thi thiết kế để cải tạo nhà máy thành một gallery, nhấn mạnh các giải pháp tiết kiệm năng lượng. Công trình hoàn thành năm 2002, tiêu tốn 46 triệu bảng Anh từ nguồn xổ số quốc gia, ngân sách thành phố và một vài tổ chức nghệ thuật.

4 tháp chế biến bột được giữ lại ở bốn góc để ổn định cấu trúc và bố trí cầu thang, thang máy, nhà vệ sinh và hệ thống điện nước, điều hòa. Hàng cột chịu lực chạy vòng quanh nên ở giữa là không gian rỗng, có thể thay đổi linh hoạt tùy theo yêu cầu trưng bày. Nếu ngày xưa nơi đây chế biến bột thì ý đồ về một cái “art factory” cũng tương tự: các vật liệu được chuyển đến, sáng tác, vận chuyển, và trưng bày tại một nơi.

Hình chụp từ bờ Bắc, do đi lố xe buýt nên phải cuốc bộ ngược lại lol. Ngay cạnh nó là cầu đi bộ dây văng, Millennium Bridge, cũng là một dự án trong chiến lược tái phát triển của thành phố.

image

Từ trên cầu dòm qua phải, hôm đó gió giật đùng đùng nên nó lắc y như cầu nhà mình. 😀
image

Hình trên là một ví dụ cho thấy cách xử lý một công trình hiện đại để có thể vừa tôn trọng cảnh quan lịch sử, vừa thể hiện được tiến bộ công nghệ: khung và dây văng của cầu đi bộ tương xứng với  Tyne Bridge ở đàng xa, tương xứng về hình khối chứ không phải sao chép.

Vừa qua cầu, nhìn bên trái là lối vào chính ở mặt Tây tòa nhà với vật liệu kính và nhôm:
image
Nhìn hình này có thể nhận ra cách người ta xử lý không gian giữa một tòa nhà lịch sử và khu nhà ở hiện đại bên cạnh:

– Các khối nhà ở màu trắng có độ cao tương đương tòa nhà Baltic;

– Phần ban công của khối nhà ở cũng là dãy ô vuông xếp theo chiều dọc, giống với mặt kính khung nhôm của The Baltic;

– Phần sơn trắng mô phỏng các tháp bột (gạch vàng);

– Tầng thượng các khối nhà này cũng là những hộp kính với độ cao tương đương với khu vực ngắm cảnh cùa The Baltic.

– Các khối nhà thấp so le sử dụng cùng gạch màu vàng, tránh xây cả một khối to làm áp đảo cái gallery.

Thực tình tui vẫn thích chụp một tấm mà tòa nhà gallery này không phải chen chúc với những công trình khác, nhưng trong thực tế thì do những hạn chế về sở hữu, tài chính mà các bên phải nhượng bộ lẫn nhau thì thái độ cân nhắc như này vẫn tốt hơn là ngạo mạn kiểu đầu tôm như bọn Vincom nha.

Lối vào tòa nhà, vật liệu ốp hai bên tường là thép Corten.

image
đây là loại thép có bề mặt trông giống như bị gỉ, chỉ khác với gỉ thiệt là khi sờ tay vào hay bị ướt thì không có lem luốc ra. Một đặc điểm nữa là loại thép này không cần sơn phết gì hết nên cứ để mốc meo thế thôi.

Loại thép này khá được ưa chuộng ở Anh vì nó dễ hòa hợp với những không gian cổ kính, gợi nhớ đến quá khứ phát triển công nghiệp, và nếu kết hợp với kính thì vẫn thể hiện tốt tính đương đại. Vật liệu này cũng hay được sử dụng trong các công trình điêu khắc công cộng, vd như tượng Angel of the North ở cửa ngõ phía Nam Newcastle:angel of the north

Nhìn thấy từ xe bus tui lại nhớ đến tượng Gundam ở Tokyo:

gundam

Gundam rõ cool hơn hẳn; nhiều khi thấy bọn Anh này bảo thủ bỏ mệ…

Bước vào trong, khách tham quan sẽ phải đi qua một lối đi lát đá đen, trần ốp nhôm tấm. Như mấy đứa teen là tụi nó sẽ ngửa cổ tự sướng với cái trần này nè. Trần thấp nhưng lớp nhôm phản chiếu làm nó cao gấp đôi, lại hút được tầm nhìn về phía quầy tiếp tân.
image
Bên trái là shop lưu niệm, phải là café:
image
Phía trên là tầng lửng làm quán bar:
image
Không biết buổi tối khi set up bàn ghế và đèn đóm đầy đủ thì thế nào, lúc này thì thấy mấy quả đèn tròn hơi vô duyên.
image
Cả diện tích này thực ra là phần mở rộng của tòa nhà khi cải tạo, trần nhà được cố ý làm thấp để không che lấp tầm nhìn về công trình chính.
Chuyện là nhằm phục vụ cho Visual Arts Year năm 1996, khi đó công trình cải tạo chưa hoàn thành, thì Dimonic Williams được giao nhiệm vụ thiết kế một cái café phục vụ cho khu vực triển lãm tạm thời ở đây. ý tưởng ban đầu là khi tòa nhà hoàn thiện thì cấu trúc này sẽ được di chuyển lắp đặt trên phần mái để làm nhà hàng. Tuy nhiên do những hạn chế về tài chính và thời gian mà ý tưởng này không thực hiện được mà họ xây mỗi vị trí một thiết kế riêng.

đi đến dãy bậc thang cuối lối đi, khách tham quan tiếp tục bước qua một khu vực lợp mái kính, có thể nhìn thấy toàn bộ mặt phía Tây tòa nhà với khu vực quan sát ở trên cùng, 3 cái thang máy ở giữa, hai bên là 2 tháp chế biến bột. Nhà vệ sinh và thang bộ nằm trong tháp bên phải của hình.
image
Cùng vị trí với ảnh trên nhưng nhìn ngược ra cửa thì thấy thế lày:
image

đàng sau bức rèm trong hình chính là cái bar ở tầng lửng.
Còn đây chụp 3 cái thang máy lợp kính, khách có thể nhìn ra phía sông hoặc ngược vào trong công trình.

image
Khoảng giữa thang máy và cái tháp, chụp ngược lên:
image

Nhìn ra hành lang phía bờ sông sẽ thấy tác phẩm Blake in Gateshead:

wpid-20130324_141550.jpg

đây là tác phẩm chiếu sáng do Jaume Plensa lắp đặt năm 1996, cùng năm với Visual Arts Year. Nó là cái đèn laser chiếu thẳng lên trời như vầy:

blake in gateshead

Cầu thang bộ, dưới sàn và trần trên cùng lắp kính nên nhìn qua lan can thấy nó sâu hút thế lày, dụng ý nghệ thuật là để đứa nào mặc váy đứng đây sẽ lộ hàng ngay : ))
image

image
Tầng 2 có cái tầng lửng làm khu hành chính, cũng là nơi làm việc của các nghệ sỹ.
Thích cái thang xoắn này:
image
Phía dưới làm nơi vui chơi cho trẻ em, cũng là nơi nghỉ ngơi tán dóc của nhân viên vì thời Sune Nordgren (curator người Thụy điển) còn làm quản lý ở đó ổng không cho phép nhân viên ăn uống trên văn phòng.

ảnh chụp ở tầng dưới, nhìn về mặt kính phía đông:
image

Các tầng trưng bày đều lót sàn bằng gỗ thông Thụy điển. ở mặt kính phía đông nhìn ra ngoài là sân sau của công trình, nơi mấy xe chở hàng có thể chạy xuống tầng hầm, từ đây các tác phẩm có thể được chuyển lên trên theo hệ thống thang máy nằm trong một cái tháp bột phía bên trái hình. Vào thời điểm hoàn thành thì đây là cái thang máy chuyển hàng lớn nhứt châu âu, giờ còn nhứt không không biết. 😀

Từ vị trí đó nhìn lên phía sau là tầng lửng văn phòng:

image

Bức tường bên phải dán đầy mấy cái storyboards trông rất artsy, đứng ở đây làm tấm mugshot cũng được nâng tầm lắm lol.

Một góc thư viện, cùng tầng 2:

image
Cũng ở mặt kính phía đông, lên tầng 3 sẽ nhìn rõ được cái mái che bằng vật liệu polyester phủ pvc, kích thước 19mx8m :
image
Tấm này có thể trượt trên đường ray đặng tùy theo yêu cầu ánh sáng triển lãm mà có thể che lại toàn bộ mặt đông của tòa nhà từ tầng 1 đến tầng 3. Nhìn từ ngoài:

sail

Nhà máy này lúc trước có 2 lớp, cách nhau chừng 2.5m. Sau khi cải tạo thì lớp trong được bóc hết ra, còn lại mấy cái cột là dấu vết.
image
Tầng 3 dành cho những triển lãm không gian kín. Diện tích trưng bày tầng 3 và 4 khoảng 750 m2. Khu vực triển lãm người ta không cho chụp hình nên có mấy tấm tui chôm từ tạp chí:

level 3 inter Tầng 4, góc đông bắc tòa nhà có một cái sân ngắm cảnh. Dòm qua phải là thấy cận cảnh mặt Bắc của tòa nhà. Vị trí này ở các tầng dưới dùng làm nơi đào tạo và sáng tác.

image

năm 2000  Jenny Holzer đã trình diễn tác phẩm Truisms của bả ở đây, đang trong quá trình xây dựng nên vẫn còn mấy cái cần cẩu:

Truisms

Nhìn ra phía bờ sông, cũ và mới rất nhịp nhàng cân xứng:

wpid-20130324_145158_LLS.jpg Tầng 4 là tầng có không gian triển lãm có trần cao nhứt, dành cho các tác phẩm kích thước lớn. Dọc trên trần là 2 dãy kính để tận dụng ánh sáng tự nhiên.

level 4 inter
Dominic Williams thừa nhận cảm hứng cho đồ án cải tạo này đến sau khi ổng đi xem triển  lãm Unseen Images của Bill Viola tại Whitechapel Gallery (London) năm 1994. Không gian ở đó tuy cũng giới hạn nhưng đã được xử lý cho linh hoạt hơn.

Coi vài tấm hình của Whitechapel để thấy nó ảnh hưởng đến The Baltic thế nào, nhất là cái trần:

12455-50-1whitechapelwhitechapel-gallery-bochner-exhibit2Giờ thì bước vô cái viewing box ở trên cùng. Không gian này cũng được ngăn làm 2 tầng; tầng 5 là nơi ngắm cảnh, tầng 6 nhà hàng và bar.

Khách tham quan trở thành một phần trong tác phẩm nghệ thuật:

image
Này là cái Time Telescope:
image
Hình dáng như vậy nhưng nó không phải ống dòm mà là thiết bị trình chiếu video kèm tiếng động; có mấy nấc cho mình chọn từ cả ngàn năm trước C.N cho đến thời đầu thế kỷ, quay ống kính tới đâu thì video chuyển sang góc tương ứng.

Gí mặt vô kính thì thấy thế này:
image
Khu vực mở rộng bên dưới còn có tác dụng đưa lối vào công trình đến gần hơn với dòng người đi bộ, làm tăng thêm tính mời gọi. ý tưởng ban đầu của KTS là cái cầu sẽ dẫn trực tiếp đến lối vào luôn nhưng vì những giới hạn của quy hoạch nên kết quả chỉ đến đây thôi.

Xa xa cái khối nhà lợp kính là The Sage Gateshead, cũng là một trung tâm nghệ thuật nhưng chuyên về âm nhạc.

Lên tầng trên là cái bar tên Six Sense:
image
Và nhà hàng 90 chỗ ngồi, hình này view về khu trung tâm:
image
Mảng ăn uống ở đây được đầu tư khá kỹ, bởi ý đồ dành cho tòa nhà này là kết hợp kỹ thuật+nghệ thuật+kiến trúc+ẩm thực. Cả bar lẫn nhà hàng đều được xếp vào top recommendations của Newcastle, nói vậy chứ ko biết vì cái view hay vì đồ ăn lol.

ở tầng 4 mà nhìn lên qua dãy cửa kính là một cấu trúc thép để cố định nhà hàng, hình chụp từ tầng 6:
image

Cấu trúc này gợi nhớ đến giàn giáo được dùng để gia cố các bức tường khi phần ruột được rút rỗng trong quá trình cải tạo:

steel structure
Cùng thời điểm 1999, trong vòng 3 tháng sau khi tháo dỡ và trước khi bắt đầu xây lại phần ruột tòa nhà thì Anish Kapoor cho thực hiện tại đây tác phẩm Taratantara. Nhìn xa giống thép vậy chứ nó là cấu trúc rỗng bằng vải nhựa nhé:
taratantara

Lúc này 2 mặt đông và tây đã được dỡ đi để sau này lắp kính vào. Xem video để biết người ta dựng nó lên như thế nào:

Nói chung các tác phẩm trong thời gian cải tạo thường được nhắc đến như các cột mốc trong thành công của công trình. Thử nghĩ, với một khu vực vốn có chức năng sản xuất công nghiệp, bị bỏ hoang hơn chục năm và quá trình xây dựng lại cũng kéo dài thì việc định vị lại hình ảnh sớm chừng nào sẽ tốt chừng đó. Việc tính toán các chức năng tạm thời cũng quan trọng không kém dự án chính thức nhé.

Mặt khác, với chiều cao và vị trí cạnh bờ sông thì giữ lại nhà máy bột cũng chính là giữa lại ký ức của cư dân thành phố, cũng như bảo tồn góc nhìn giữa vị trí này với khu trung tâm. Bước vào The Baltic rồi sẽ thấy, The Sage kiến trúc tân kỳ và quy mô rộng hơn nhưng không gian nhạt hơn nhiều, dù việc cải tạo có thể gây tốn kém hơn, dù với con mắt của khách lạ thì tui cũng ngán cái màu gạch ở Anh lắm rồi ha.

* Viết tới đây lại nghĩ không biết số phận cái nhà máy Ba Son sẽ đi về đâu
** Cách thức bảo tồn đối với The Baltic chỉ là một trong nhiều hướng tiếp cận, quyết định thế nào tùy thuộc vào thể loại, thời đại, giá trị lịch sử, năng lực quản lý, thiết kế và… tiền.

Xem thêm các bản vẽ

tầng trệt:

ground level

tầng 1:

level 1
tầng 2:

level 2

tầng 3:

level 3tầng 6:

level 6mặt cắt ngang, nhìn theo hướng Bắc:

long crossmặt cắt ngang, nhìn theo hướng Tây:

short cross section

Tham khảo:
Phillips, Alan.Architecture today 132 (Oct 2002): 56-79.
Williams, Austin, [1959-]; Dawson, Susan.Architects’ journal216. 5 (Aug 1, 2002): 20-28,30-31.

Ngày Trái Đất: Hãy cứ lạc quan

*Tựa cũ: Ngày Trái Đất: Đừng run sợ, hãy cứ mỉm cười

Giữa những bàn luận bi quan về một thảm họa môi trường trong tương lai gần thì  bài viết này sẽ hơi ngược đời, nhưng thực sự trước dịp kỉ niệm thứ 40 kể từ Ngày Trái Đất đầu tiên thì những ai quan tâm đến môi trường nên có nhiều lý do để vui mừng hơn. Dĩ nhiên đó không phải là quan điểm của những người tổ chức Ngày Trái Đất 2010. Đối với họ, “Trái đất đang nguy cấp hơn bao giờ hết” (theo một lời kêu gọi gần đây trên mạng). Nhưng hãy nghĩ xem: tại tất cả các quốc gia phát triển, không khí đã dễ thở hơn và nước uống đã an toàn hơn so với năm 1970. Tại hầu hết các quốc gia thuộc thế giới thứ ba, hiện tượng phá rừng nay đã được thay thế thành phong trào tái trồng rừng. Hơn nữa, tỉ lệ suy dinh dưỡng đã thuyên giảm và có thêm nhiều người được tiếp cận với vệ sinh và nước sạch.

Những dự báo mang tính thảm họa của các nhà hoạt động môi trường chẳng phải là điều gì mới mẻ. Cho đến 10 năm trước đây tôi vẫn tuyệt đối tin vào những tiên đoán đó. Như nhiều người trong chúng ta, tôi đã nghĩ rằng thế giới đang trở nên tồi tệ hơn mỗi ngày. Suy nghĩ này chỉ thay đổi khi với tư cách một giảng viên đại học, tôi cho các sinh viên chứng minh điều ngược lại mà lúc đó tôi thấy rất gượng gạo rằng các chỉ số môi trường thực ra đang được cải thiện.

Ngạc nhiên thay, những dữ liệu thu thập được cho thấy những chỉ số môi trường chủ yếu đúng là đang có chiều hướng tốt hơn. Chúng tôi cũng nhận ra sự khác biệt không mấy hay ho giữa những mối quan tâm chính của các nước giàu và những vấn đề thật sự đang gây hại cho thế giới.

Nếu có điều gì phải bi quan thì đó chính là khoảng cách giữa quan niệm và thực tế này đang ngày một nong rộng ra theo năm tháng. Ví dụ, một trong những “vấn đề lớn” mà các nhà tổ chức Ngày Trái Đất năm nay nhắc đến là tình trạng sử dụng phân bón và thuốc trừ sâu. Nhắc lại điều này có lẽ gây nhàm chán, nhưng nếu không có những kỹ thuật sản xuất nông nghiệp năng suất cao được phát triển suốt 60 năm qua thì gần như chắc chắn tất cả rừng trên thế giới sẽ bị xóa sổ cho mục đích sản xuất lương thực. Và đói kém sẽ còn trầm trọng hơn rất nhiều.

Biến đổi khí hậu đang khấn cấp?

Dĩ nhiên trong suy nghĩ của các nhà vận động cho Ngày Trái Đất thì không có thách thức môi trường nào cấp thiết hơn là yêu cầu cắt giảm carbon để ngăn chặn hiện tượng trái đất nóng lên. Nhưng liệu biến đổi khí hậu có phải là vấn đề lớn nhất phải đối phó?

Vậy còn vấn đề ô nhiễm không khí trong gia đình, tác nhân môi trường gây tử vong hàng đầu thế giới thì sao? Ở những nước nghèo, 2,5 tỉ người dựa vào năng lượng “sinh khối” (gỗ, rác thải, phân động vật) để nấu ăn và giữ ấm. Năm nay, ô nhiễm phát sinh từ những hoạt động đó sẽ giết chết khoảng 1,3 triệu người, chú yếu là phụ nữ và trẻ em. Chuyển từ nhiên liệu sinh khối sang nhiên liệu hóa thạch sẽ cải thiện đáng kể cuộc sống của hơn một phần ba dân số thế giới. Điều không may là này Trái Đất năm nay chúng ta sẽ chẳng nghe thấy ai phát biểu ủng hộ việc sử dụng nhiều hơn nhiên liệu hóa thạch tại các nước nghèo.

Tôi không nói là chúng ta cứ vô tư phớt lờ hiện tượng trái đất nóng lên. Biến đổi khí hậu do lỗi của con người là có thật, và đúng là chúng ta phải hành động. Nhưng trong một thế giới mà hầu hết các nước đang phát triển phụ thuộc gần như hoàn toàn vào nhiên liệu hóa thạch để vận hành nền kinh tế thì việc khăng khăng đòi cắt giảm thêm nhiều khí thải carbon như giải pháp duy nhất cho tất cả cho thấy sự thiếu thực tế và thiếu cả đạo đức. Giải pháp này chỉ hợp lý trong trường hợp chúng ta hỗ trợ các nước đang phát triển những lựa chọn thay thế than và dầu rẻ tiền và thực tế. Nhưng chúng ta không làm được, và khi không thể giúp được gì thì những gì chúng ta đang thực sự làm khi kêu gọi cắt giảm phần lớn carbon chính là bảo những người nghèo hãy cứ tiếp tục sống cuộc đời tăm tối và đau khổ.

Hãy giúp đỡ những nước nghèo trước

Vậy chúng ta nên làm thế nào? Đầu tiên là chúng ta có thể suy xét một trong những bài học quan trọng trong 40 năm đấu tranh vì môi trường vừa qua. Không thể nào đòi hỏi người ta phải quan tâm đến việc môi trường sẽ ra sao trong 100 năm tới nếu họ đang phải lo nghĩ đến việc con cái có đủ ăn hay không. Lưu ý được điểm này, chúng ta nên tập trung vào nhiều vấn đề khẩn thiết hơn của những nước nghèo trong hiện tại – những vấn đề như suy dinh dưỡng, giáo dục, bệnh dịch và nước sạch. Đồng thời, phải có những bước đi hiệu quả nhằm đảm bảo rằng tương lai của những nước này đến từ những nguồn năng lượng xanh. Chừng nào điện năng từ những nguồn bền vững như mặt trời còn tốn kém gấp 10 lần điện sản xuất ra ở các nhà máy chạy than thì chừng đó chỉ có những nước giàu mới chịu ủng hộ năng lượng xanh (đương nhiên phải có trợ cấp từ chính phủ). Điều chúng ta cần làm đó là hỗ trợ những đột phá công nghệ để làm sao cho năng lượng mặt trời rẻ hơn năng lượng hóa thạch. Một khi làm được việc đó thì chẳng cần phải ép buộc ai từ bỏ than và dầu.

Do đó mục tiêu của chúng ta gồm có hai bước: thứ nhất, xử lý ngay những vấn đề cấp thiết ở những nước đang phát triển; thứ hai, giúp những nước này có được những công nghệ cần thiết để tạo ra một thế giới xanh và thịnh vượng. Thật ngạc nhiên là những điều này dường như không gậy được sự hứng thú ở các phong trào môi trường. Nhưng trong khi họ kêu gào về những thảm họa từ sự tham lam và nền kinh tế ngốn xăng của chủ nghĩa tiêu dùng phương Tây, thì nhân Ngày Trái Đất, những người còn lại trong chúng ta hãy cứ vui mừng vì những thành tựu môi trường đã đạt được và vạch ra một con đường thích hợp cho những thử thách trước mắt.

Đăng ngày 21/04/2010 tại USA Today

Tác giả Bjorn Lomborg

Nguyễn Thanh Việt dịch

Giờ Trái Đất: Tắt đèn chỉ làm tăng thêm chỉ trích

Bóng tối khơi dậy những cảm giác về sự nguy hiểm, sự tàn lụi và cái chết. Vậy tại sao phải sử dụng những hình ảnh đó làm đại diện cho mục đích của chúng ta?

Trong suốt 25 năm hoạt động môi trường của mình, tôi đã từng chứng kiến nhiều phong trào đầy hứng thú và cũng không ít thứ thiếu chiều sâu hay thậm chỉ vô nghĩa. Nhưng với Giờ Trái Đất của WWF (Quỹ Quốc tế Bảo vệ Thiên nhiên) thì phải nói đây là một trong những chiến dịch lệch lạc và phản tác dụng nhất mà tôi từng thấy.

Nhìn qua thì đây có vẻ là một ý tưởng tốt, như một kiểu góp gió thành bão. Tắt đèn trong vòng một giờ vào vào thứ bảy này từ 8:30pm là một hành động nhỏ và đơn giản để có thể tuyên truyền dễ dàng.

Đây là một chiến dịch có tính trực quan cao, là một điều mà bất kỳ ai cũng có thế làm và tham gia dù với tư cách cá nhân hay doanh nghiệp lớn. WWF kỳ vọng hàng trăm triệu người khắp thế giới sẽ tham gia chiến dịch. Và điều tuyệt vời nhất là sự kiện này không chỉ mang ý nghĩa biểu tượng mà còn có ảnh hưởng tích cực đến vấn đề lớ n là cắt giảm khí thải; thậm chí kết quả còn được thể hiện rõ ràng qua các chỉ số.

Nghe thật tuyệt, nhưng hãy nói về giả thiết này trước: Giờ Trái Đất thực sự sẽ chẳng giúp cắt giảm chút khí thải nào. Các công ty năng lượng luôn để dành một phần công suất và các tuốc-bin vẫn luôn chạy trong suốt thời gian nhu cầu điện tụt giảm đột ngột để chuẩn bị khi mọi người bật đèn lên lại.

Cứ cho là chiến dịch này hoàn toàn mang ý nghĩa biểu tượng thì chúng ta cũng cần trả lời thêm nhiều câu hỏi: thông điệp của nó hướng tới ai? Thông điệp đó nói với họ  điều gì? Và nó được tiếp nhận như thế nào trước những thái độ và định kiến sẵn có?

Nếu các bạn đem thông điệp đó đến những nhà hoạt động xanh thì chiến dịch này không có vấn đề gì. Họ vốn đã tin vào biến đổi khí hậu và những mô hình hành động mang tính biểu tượng. Họ vốn đã tin vào ý tưởng cắt giảm tiêu thụ năng lượng và tắt nguồn các thứ – cho dù trong thực tế họ không hẳn đã làm tốt chuyện đó.

Nhưng vào lúc này những nhà hoạt động xanh không phải là những người chúng ta cần phải đối thoại. Ưu tiên lớn nhất của chúng ta là lôi kéo sự tham gia của phần đông dân chúng, những người quan tâm đến biến đổi khí hậu nhưng cảm thấy vô cùng lúng túng trước động cơ của chính phủ và các nhà môi trường.

Thành phố Toronto, Canada trong Giờ Trái Đất 2012. Nguồn: NationalPost.com

Trong các nhóm thảo luận thuộc các dự án nghiên cứu, những người tham gia thường thể hiện quan điểm ngờ vực đối với những người mà họ cảm thấy rằng đang lợi dụng vấn đề môi trường để tước đoạt đi các lợi ích vật chất. Yêu cầu mọi người phải ngồi trong bóng tối càng củng cố thêm một định kiến rộng rãi rằng những nhà hoạt động “xanh” muốn chúng ta phải quay về thời kỳ đồ đá.

Và nếu ta tìm hiểu sâu hơn về ý nghĩa biểu tượng thì chuyện còn tệ hơn nhiều. George Lakoff, giáo sư ngôn ngữ học tri nhận tại Đại học California nhận xét rằng trong khi chúng ta khẳng định chỉ tập trung vào ý nghĩa câu chữ thì sự thực những ẩn dụ được thể hiện trong ngôn ngữ sẽ định hình thái độ của chúng ta.

Ánh sáng mang những liên hệ ý nghĩa có tính tích cực và nhiều khát vọng như: văn minh, sự thật, sức khỏe, trí tuệ, an ninh, hy vọng, sự sống, sự cứu rỗi. Phe chống lại phong trào biến đổi khí hậu hiểu rõ điều này và thường xuyên sử dụng những hình ảnh những ánh đèn về đêm trong truyền thông như một ẩn dụ về sự sôi động, văn minh và tiến bộ.

Do đó, khó có điều gì ảnh hưởng tiêu cực đến mục tiêu của chúng ta hơn là hình ảnh những ngọn đèn chết. Những ẩn dụ của bóng tối là: hiểm nguy, tan rã và chết chóc. Người ta nghĩ về Thời kỳ Đen tối (Dark Ages) như là một thời tàn bạo. Những nhà thơ như Dylan Thomas kêu gọi chúng ta phải “căm phẫn trước sự lụi tàn của ánh sáng”. Ngài Edward Grey tại thời điểm trước chiến tranh thế giới thứ nhất đã viết rằng “những ngọn đèn đang tắt trên khắp châu Âu”. Sự đồng thuận văn hóa (về các hàm nghĩa của bóng tối – nd) thật khó có thể xấu hơn.

Đòi hỏi bức thiết hiện nay là lôi kéo được những người dân bình thường vào viễn cảnh của một thế giới tươi đẹp hơn, giúp họ cảm thấy những hành động cho biến đối khí hậu thật sự tích cực và hấp dẫn.

Chúng ta có rất nhiều những ẩn dụ tích cực để sử dụng cho mục đích của mình – từ sự nguy hiểm và bẩn thỉu của nhiên liệu hóa thạch đến ánh sáng của năng lượng mặt trời; những giá trị cốt lõi của tính địa phương và cộng đồng; sức khỏe từ một chế độ ăn uống và sinh hoạt lành mạnh; và một giá trị lớn lao khác chính là hành trình của nhân loại về một tương lai sạch sẽ, thông minh và hiệu quả hơn.

Vậy mà tại sao, sau chừng ấy năm chúng ta vẫn cứ mắc sai lầm?

George Marshal là người sáng lập Mạng lưới Tiếp cận Thông tin Khí hậu và tác giả cuốn sách Carbon Detox và blog climatedenial.org

Dịch từ The Guardian

Vì sao người dân Bogota bạo động chống lại hệ thống giao thông công cộng?

dịch từ The Atlantic Cities

Vào đầu tháng này, các cuộc biểu tình phản đối TransMilenio, tên gọi hệ thống giao thông công cộng của thủ đô Colombia, đã leo thang thành bạo động.

Theo tin tức thời sự thì vụ việc này đã khiến khoảng 1200 nhân viên an ninh pháp luật vào cuộc với nhiều trường hợp bị thương và bắt giữ; khoảng năm trạm xe buýt đã bị đập phá.  Các cuộc biểu tình bắt đầu dưới dạng tuần hành phản đối xe buýt chật chội và đắt đỏ của TransMilenio và sự thiếu thốn các lựa chọn giao thông công cộng nói chung của thành phố.

Phản ứng tức thì trước tin tức này đó là sự ngạc nhiên bởi ít ai nghĩ một trong những hệ thống giao thông công cộng được tán dương nhất thế giới lại có thể là nguyên nhân gây bất bình lan rộng như thế. Theo một báo cáo gần đây, hệ thống TransMilenio bắt đầu vận hành từ năm 2000, với gần 1300 xe buýt phục vụ 9 tuyến dài tổng cộng hơn 80km, mỗi ngày chuyên chở ít nhất 1.4 triệu hành khách (những tính toán khác đưa ra con số là 1.7 triệu). Sự ra đời của hệ thống bắt nguồn từ quyết định của thị trưởng Enrique Peñalosa về phát triển bền vững giao thông có sức chuyên chở lớn thay vì ủng hộ xây đường cao tốc đô thị.

Hệ thống TransMilenio được các nhà quy hoạch đô thị và giao thông trên thế giới ca ngợi nhiệt tình nên việc miêu tả cho đầy đủ những thành công của nó cũng không phải dễ dàng. Vào thời điểm TransMilenio mới xuất hiện, thời gian di chuyển trên một vài tuyến đã giảm đến 32%, số ca tử vong vì tai nạn giao thông cũng giảm 89% và lượng phát thải carbon cũng giảm đi 300,000 tấn mỗi năm. Hệ thống này có tính kết nối chặt chẽ với mạng lưới đường dành cho xe đạp rộng khắp thành phố. Tác động tích cực của TransMilenio còn vượt ra khỏi phạm vi ngành giao thông: theo một nghiên cứu từ năm 2007 thì giá trị bất động sản nhà ở trong khu vực bao phủ của hệ thống đã tăng thêm 6 đến 17%.

Tuy nhiên, dù con số có cho thấy sự khả quan thì thực tế về sự bất mãn của xã hội đối với TransMelenio cũng không phải điều gì mới mẻ. Sự ủng hộ của dân chúng đối với hệ thống bắt đầu giảm sút vào năm 2004 với những phàn nàn về giá vé và tình trạng quá tải. Vào tháng 3 năm đó hành khách đã biểu tình phản đối chất lượng dịch vụ kém vì việc sửa chữa kéo dài trên 3 tuyến của hệ thống. Tháng 4 năm 2008, hành khách lại tiếp tục phản ứng, lần này với lý do xe đông đúc, ít chuyến và thiếu các lựa chọn thay thế. Các mô phỏng giao thông từ thời điểm đó đã cho thấy rằng, nếu không có những bước đi nhằm mở rộng độ bao phủ của hệ thống giao thông công cộng thì tình trạng quá tải sẽ lâm vào bế tắc vào năm 2012, chính xác những gì đang diễn ra.

Theo một đánh giá tổng quan về hệ thống TransMilenio của Alex Hutchinson trên trang The City Fix mùa hè năm ngoái, những lời phàn nàn không phải là không có cơ sở. Vào giờ cao điểm các trạm xe buýt kẹt cứng đến nỗi ngay việc bước xuống xe cũng không thực hiện được. Sự đông đúc khiến cho nhiều hành khách quay trở lại với xe hơi, vốn chỉ làm tăng tắc nghẽn trong thành phố. Trong khi đó giá vé 1 đô la bị xem là cao so với mức lương trung bình mỗi ngày của người nghèo chỉ gấp ba lần khoản ấy.

Theo Hutchinson, nguyên nhân của vấn đề khá phức tạp nhưng tựu trung nằm ở một vài điểm chính. Thứ nhất là trong suốt nhiều thập niên thành phố đã đắm đuối vào giấc mơ không thành xây dựng hệ thống tàu điện ngầm vốn tốn kém hơn nhiều so với hệ thống xe buýt có sức chở lớn mà độ bao phủ lại kém hơn. Một nguyên nhân nữa là việc thiếu các khoản hỗ trợ của chính phủ đã cản trở khả năng mở rộng và giải quyết vấn đề của hệ thống. Thứ ba, đó là các dự án mở rông đang được thực hiện lại diễn ra chậm chạp:

Các quy hoạch ban đầu dành cho TransMilenio dự đoán vào năm 2011 sẽ có 170 km làn xe buýt. Tuy nhiên, hiện tại Bogota chỉ có 84 km đã hoàn thành và 20 km đang trong quá trính xây dựng. Trong khi giai đoạn một của hệ thống được tiến hành nhanh chóng trong thời gian hai năm thì giai đoạn hai và ba bị trì hoãn, mất năm năm và bảy năm để bắt đầu. 20 km đang xây dựng thuộc giai đoạn ba đã bị trễ 1.5 năm so với kế hoạch và dự kiến hoàn thành trong năm 2012, khiến cư dân thành phố vốn bị bao vây trong các công trình đang thi công càng thêm bức xúc.

Sự bất mãn của dân chúng đối với TransMilenio đã gây sự chú ý đối với các thành phố khác xem hệ thống này như một hình mẫu cho mạng lưới giao thông của mình. Dù tình hình hiện tại của Bogota có thể là bài học để các nhà quy hoạch giao thông giải quyết thì sẽ là sai lầm nếu lấy đó làm căn cứ để chối bỏ vai trò của xe buýt. Những gì các cuộc biểu tình cho thấy đó là công việc xây dựng một hệ thống giao thông công cộng thật sự tốt vẫn chưa bao giờ hoàn tất.

Chi phí xã hội của việc sử dụng xe hơi

Dưới đây là một clip truyền thông của Viện nghiên cứu Chính sách Phát triển và Giao thông (ITDP) về những hệ quả từ việc sử dụng xe hơi quá mức ở Mexico. Một phương pháp vận động chính sách tiến bộ và phổ biến ở nhiều nước. Hiệu ứng hình ảnh – âm nhạc cuốn hút và đặc trưng, còn kèm cả những yếu tố hài hước để làm nền cho những lý giải tập trung và rõ ràng.

Việc cho ra đời một chính sách dù hợp lý hay không, nếu thiếu sự đồng thuận từ công chúng thì cũng khó nắm được phần thành công.

Bài này dịch lại từ phần phụ đề tiếng Anh.

………………………….

Tậu ngay chiếc xe hơi

Phương tiện của tương lai

Tiện nghi và dễ lái

RẤT RẤT DỄ LÁI

Còn ai nữa? Thành phố này chính là của quý vị

Hãy ngồi lên xe, nổ máy và lái cho thỏa thích!

Câu chuyện nay không còn dễ dàng như thế nữa.

Hàng năm, mức tăng trưởng xe hơi tại các thành phố của Mexico là 6.4%. Vào năm 2030 cả nước sẽ có 70 triệu xe hơi cá nhân, tức tăng 350% so với năm 2009.

Và chúng ta đang trả giá cho cái mà các nhà kinh tế gọi là externality, hay chi phí xã hội thực tế. Tắc nghẽn, ô nhiễm, tiêu tốn thời gian, căng thẳng, các vấn đề sức khỏe, thiếu không gian công cộng, tai nạn và biến đổi khí hậu. Đó là cái giá phải trả cho việc sử dụng xe hơi quá mức.

Nhưng đó không phải là cái giá duy nhất. Thiệt hại kinh tế đối với đất nước cũng không nhỏ.

Chi phí dành cho việc trợ cấp xăng dầu lớn gấp đôi con số dành cho các chương trình xóa nghèo. 70% đầu tư công vào phát triển giao thông được đổ vào cơ sở hạ tầng phục vụ xe hơi. Tuy nhiên chỉ 30% dân số Mexico sử dụng xe hơi.

Có điều gì đó không ổn.

Các cây cầu, đường hầm và đường cao tốc mới luôn xuất hiện nhưng tắc nghẽn vẫn gia tăng. Lý do là bởi hiện tượng phát sinh nhu cầu (induced demand).

Có hai loại đối tượng sử dụng xe hơi: lái xe hàng ngày và lái xe cơ hội (shadow driver). Những người thuộc nhóm đầu sử dụng xe hơi đi bất kì nơi nào, dù giá cả có thế nào. Những người thuộc nhóm thứ hai sử dụng xe hơi khi đó là loại hình phương tiện thuận tiện nhất.

Cách giao thông vận hành cũng giống như chất khí: chúng lấp đầy không gian chứa chúng. Cho dù bình chứa có lớn thêm bao nhiêu thì các phân tử vẫn luôn xâm chiếm toàn bộ khối không gian đó. Khi hệ thống đường sá phát triển, những người lái xe cơ hội vốn trước đây tránh sử dụng xe hơi sẽ chuyển sang sử dụng chúng và lại tiếp tục làm giảm tốc độ lưu thông.

Khi việc sử dụng thứ gì đó trở nên dễ dàng và chi phí quá thấp thì nhu cầu sẽ gia tăng cho đến khi vượt quá giới hạn và khủng hoảng xảy ra. Nếu chúng ta giữ cho xăng dầu thấp bằng cách trợ cấp và cho phép đỗ xe miễn phí trên đường, nhiều lái xe cơ hội sẽ trở thành lái xe hàng ngày hơn. Những giải pháp này chỉ khiến lượng CO2 thải ra tăng gắp bội và chiếm dụng hết không gian công cộng để lấy chỗ cho xe hơi.

Bây giờ hãy thử đặt các thứ lên bàn cân.

30% dân số sử dụng xe hơi. 70% thuộc các loại hình giao thông còn lại. Nhưng 100% dân số lại trả tiền để trợ cấp cho 30% sử dụng.

Chúng ta phải thay đổi điều này.

Chuyển những khoản trợ cấp xăng dầu sang mục đích đầu tư cơ sở hạ tầng cho người đi bộ, xe đạp và giao thông công công, và đặt ra một mức giá xứng đáng cho không gian công cộng bị sử dụng làm chỗ đậu xe. Nếu chi phí thực sự của xe hơi được tính đủ thì nhiều lái xe sẽ nhanh chóng bỏ chúng lại trong garage và việc sử dụng xe hơi trong thành phố sẽ giảm đi.

Để việc này được khả thi, hệ thống đường đi bộ, xe đạp và giao thông công cộng phải được đầu tư và mở rộng. Nếu chi phí sử dụng xe hơi được tính toán thực tế hơn, việc sử dụng xe hơi sẽ ít hơn, ít ô nhiễm hơn, ít tắc nghẽn hơn, ít tai nạn hơn, ít căng thẳng hơn, hạnh phúc hơn và chất lượng cuộc sống sẽ cao hơn

Tìm kiếm không gian công cộng trong khu ổ chuột Brazil

Thẻ

, , ,

dịch từ The Atlantic Cities
ảnh: Holcim Foundation

Đối với những khu ổ chuột chật chội và đông đúc của Brazil, không gian công cộng chỉ là một khái niệm tương đối. Trẻ em chơi đùa loanh quanh khu vực phòng ngoài, còn những lối đi và đường vào các căn hộ thường bắt buộc phải đi xuyên qua nhà người khác, và công viên thì thực là không tồn tại. Nếu có một không gian nào còn trống thì nó sẽ được dùng làm nhà ở, cho dùi đó là những nơi không an toàn. Nhưng khi những trận lở đất hay lũ lụt quét đi những ngôi nhà này thì một cơ hội lại xuất hiện.

Đó chính là ý tưởng dẫn đến sự ra đời của Trung tâm sinh hoạt cộng đồng Grotao, hiện đang xây dựng ở khu favela* mang tên Paraisopolis thuộc thành phố Sao Paolo, do tổ chức Urban-Think Tank chịu trách nhiệm thiết kế. Dự án này hướng tới việc tạo ra một công trình không gian công cộng linh hoạt cho cộng đồng này.

Alfredo Brillembourg, người đồng sáng lập U-TT, phát biểu: “Không gian công cộng là yếu tố then chốt, vì đó chính là cái họ thiếu. Nơi này đã bị xây dựng quá đà, mật độ rất cao và chúng ta phải tìm những cách tận dụng những không gian nhỏ nhoi còn lại.”

Khu vực có đến 40 ngàn người sinh sống này nằm trên một sườn đồi dốc kéo dài xuống một khu lòng chảo, một địa hình thiếu an toàn mà đợt lũ gần đây đã tàn phá nghiêm trọng khu dân cư. Các căn nhà bị quét đi đã tạo ra một khoảng trống mà Brillembourg và đội ngũ thiết kế đa ngành của mình đã nhìn ra cơ hội cho một không gian công cộng hoàn thiện. Dự án tâp trung vào việc tạo các bậc thang trên sườn đồi để làm một chuỗi các quảng trường và sân chơi, và một sân khấu bán nguyệt ở dưới đáy lòng chảo, cũng là nơi đặt trung tâm cộng đồng, trường dạy nhạc và các không gian công cộng khác.

“Chúng tôi ngay lập tức hình dung nó là một vị trí hoàn hảo cho một sân khấu ngoài trời, đó cũng là cách để gia cố ngọn đồi và tránh các nguy cơ”, Brillembourg nói.

Dự án này vừa được trao giải vàng cấp vùng của Quĩ Holcim cho các hoạt động xây dựng bền vững với mục đích vinh danh những dự án “thể hiện được khả năng đáp ứng những ý niệm cơ bản về xây dựng bền vững và cân bằng được các mục tiêu kinh tế, xã hội và môi trường.”

Chính quyền thành phố Sao Paulo là đối tượng cấp vốn cho dự án, sẽ bước vào giai đoạn hai vào tháng tới. Đối với Brillembourg, việc có được hỗ trợ từ chính quyền là điều quan trọng, nhưng quan trọng không kém là phản hồi từ người dân địa phương. Ông nói họ đã làm việc với cộng đồng dân cư để giúp gầy dựng một ban nhạc giao hưởng cộng đồng để tận dụng sân khấu và trường nhạc.

Brillembourg và người đồng sáng lập Hubert Klumpner đã thực hiện các dự án về các khu ổ chuột trên khắp Nam Mĩ trong 10 năm qua. Họ đã thiết kế hệ thống cáp treo khoang hở Metro Cable vừa khánh thành ở Caracas, cũng như hệ thống toilet khô cho những khu vực phát triển tự phát và một loạt các “trung tâm thể thao thẳng đứng” để tạo ra những không gian vận động trong những khu vực mà đất đai có sẵn bị hạn chế. Mô hình nhà chơi thể thao thẳng đứng đã được giới thiệu trong triển lãm Design with the Other 90%: Cities tại Liên Hiệp Quốc , mà Allison Arieff đã có lần nói đến trên báo này.

Những dự án về khu ổ chuột của U-TT là một phần trong các nghiên cứu và thử nghiệm liên tục với mục đích tạo ra một bộ các giải pháp chiến lược để các thành phố sử dụng cho việc cải thiện môi trường sống thiếu chất lượng của mình.

Brillembourg nói, “Trong các nhiệm kì bốn năm, hay ở một số nơi thuộc Nam Mỹ là ba năm, các thị trưởng không có khả năng định hình, phát triển dự án và nâng cấp chúng thành những giải pháp bền vững tối ưu. Nên chúng tôi nói, ‘sẽ thế nào nếu chúng ta có thể thiết kế những nhóm công trình thể hiện được vai trò như những bộ giải pháp nhiều thành phần mà bất cứ thành phố có thể sử dụng hoặc cải tiến?'”

Công việc ban đầu của nhóm phần lớn được thực hiện ở Caracas, vốn là quê nhà của Brillembourg, nhưng sau đó nó đã được mở rộng ra nhiều nơi khác. Ông nói rằng khi dân số đô thị gia tăng và các khu ổ chuột lan rộng thì công việc của ông càng có nhiều cơ hội ứng dụng trên thế giới.

“Khi chúng ta bắt đầu cải tạo các favela, bởi nó sẽ cần một cơ sở hạ tầng hoàn thiện, chúng ta cũng có thể bắt đầu suy nghĩ về một thành phố thế kỉ 21 với nhiều lớp (không gian) và ranh giới giữa công cộng và riêng tư bị xóa nhòa” Brillembourg nói.

Ông khẳng định, cái cách chúng ta suy nghĩ về khu ổ chuột cũng cần được nâng cấp chẳng khác gì chính bản thân các khu ổ chuột đó.

*Favela: khu ổ chuột bám trên các sườn đồi đặc trưng ở các nước Nam Mĩ

một favela ở Caracas và công trình Metro Cable của Urban-Think Tank

Giá trị kinh tế của cây xanh

Thẻ

dịch lại từ the Atlantic Cities

Nhiều cư dân đô thị bày tỏ tình cảm đặc biệt đối với vẻ đẹp của cây xanh, nhất là với sự hiện diện ngày càng hiếm hoi của chúng trong các thành phố, nhưng họ chỉ dừng lại ở đó. Đối với Geoffrey Donovan, một nhân viên thuộc cơ quan Dịch vụ Lâm nghiệp Hoa Kỳ (US Forest Service) tại thành phố Portland, bang Oregon, thì không như vậy. Theo như lời Donovan nói với báo SF Gate vào tháng 5, chính việc mọi người dừng lại ở mức độ cảm tính đã thúc đẩy anh tiếp tục đi xa hơn.

Mọi người đều hiểu theo trực giác rằng cây xanh là đối tượng có ích trong đô thị. Là một nhà kinh tế “vô hồn, thiếu lãng mạn”, tôi lại thích việc định lượng mọi thứ. “Càng nhiều cây thì càng tốt càng đẹp” không phải là một kiểu diễn đạt mang nhiều ý nghĩa. Bạn phải hiểu nó tốt như thế nào và trong những trường hợp như thế nào.

Để tìm tòi cho ra cách thức định lượng đó, Donovan đã nghiên cứu về ảnh hưởng của cây xanh đến các vấn đề như tội phạm ở khu dân cư, tiêu thụ điện năng, thậm chí là sức khỏe trẻ nhỏ. Trong những năm vừa qua Donovan tập trung phần lớn công sức của mình vào việc đo lường ảnh hưởng của cây xanh lên giá nhà ở Portland. Kết quả cho thấy “tốt” và “đẹp” có thể là những từ ngữ rất giá trị.

Trong ấn phẩm mới nhất của tạp chí chuyên ngành Urban Forestry & Urban Greening, Donovan và đồng tác giả David Butry thuộc Học viện Tiêu chuẩn và Công nghệ Quốc gia (National Institute of Standards and Technology) đã nghiên cứu ảnh hưởng của cây xanh lên giá thuê nhà. Họ thu thập giá chào mời của hàng ngàn căn nhà cho thuê của Portland trên Craigslist (một trang web lớn về rao vặt), sau đó tập hợp dữ liệu theo số lượng và kích thước của cây xanh ở khu vực xung quanh và thể hiện trên nền Google Earth.

Sau khi khảo sát các yếu tố liên quan – mà quan trọng nhất là sự yêu thích của người dân – Donovan va Butry xác định rằng một cây xanh trên thửa đất của một ngôi nhà giúp làm tăng tiền thuê hàng tháng thêm $5.62, trong khi một cây xanh trên con đường gần ngôi nhà sẽ giúp tăng thêm $21. Đây không phải là một con số gia tăng đáng kể gì cho lắm. Tuy nhiên, khi kết hợp với một nghiên cứu trước đó thì kết quả cho thấy sự ưu ái rõ rệt dành cho cây xanh của người dân Portland.

Trong một bài viết năm 2010 của tạp chí Landscape and Urban Planning, Donovan và Butry nhận thấy rằng một cây xanh ở trước một bất động sản ở Portland có thể giúp tăng giá bán thêm $7000. Hồi đầu năm nay một nhóm các nhà kinh tế khác cũng ghi nhận rằng yếu tố đi bộ thuận tiện đến các dịch vụ gần nhà có thể nâng giá trị ngôi nhà ở Portland thêm $3500 đối với những khu dân cư không có cây xanh, nhưng nếu có trồng cây thì con số đó là $22000.

Một phát hiện thú vị trong những báo cáo của Donovan và Butry là dân Portland rõ ràng cảm thấy cây xanh sẽ có giá trị hơn nếu nằm gần ngôi nhà thay vì nằm hẳn trong thửa đất – như cách họ nói, đó là “sự quyến rũ của vỉa hè”. Trong nghiên cứu về giá thuê nhà, một cây xanh nằm gần có giá trị gấp 4 lần so với trường hợp nó nằm trên thửa đất. Hiệu ứng tương tự cũng xuất hiện trong nghiên cứu về giá bán: một cái cây trước nhà có thể thêm vào khoảng $13000 vào giá trị căn nhà nằm gần đó, và gần như gấp đôi con số đó (tức gần $26000) nếu nằm ngay phía trước ngôi nhà. Donovan và Butry nghiên cứu ra rằng khi người mướn và chủ nhà yêu thích sự hiện diện của cây xanh ở xung quanh thì họ cũng chăm chút hơn cho vườn tược trên khu đất của mình, và theo một cách nào đó, đã nâng cao giá trị (kinh tế) của hai chữ đẹp và tốt kia thêm.

==========================

Bonus một tấm ảnh từ blog Bostonography

Tác giả dựa trên dữ liệu công cộng về cây xanh đô thị của thành phố Somerville, bang Massachusetts để xác định vị trí và giống cây, từ đó lập nên bản đồ thể hiện sắc lá của từng cây khi mùa thu đến. Dựa trên bản đồ ít nhiều ta đoán được góc nào có sắc thu đa dạng nhất. Một ý tưởng khá lãng mạn đấy chứ 🙂